Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

               ÔI, THỜI GIAN ...


Vậy đấy, sắp thành ông, thành cụ... đến nơi  rồi
Tích - tắc thời gian, đều đặn cuộc đời
Bao việc lớn còn rối bời trước mắt
Bao ý tưởng với tương lai, còn dằn vặt...
Sinh nhật qua, như lời nhắc... sắp già rồi. 

VỚI BẠN XƯA

Tại sao chúng ta không còn mãi trẻ Để thấy mỗi ngày qua thanh thoát làm saoĐể ta thấy em như ngọn gió ùa vàoVùng trống vắng từ đây không bằng lặng...


Nói với người bạn xưa

Tìm một bờ vai mà nương tựa ai ơi
Đi bước nữa để thấy mình lần nữa
Một cộng một thành đôi... và hơn nữa
Trên chặng đường đời hai nửa thành đôi



    

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

ĐI CÂU Ở SÔNG LA NGÀ, ĐỒNG NAI

Ông bạn mới quen tên Khỏe cũng là một đệ tử của nghề "Giời đày" dẫn đi câu ở sông La Ngà. Ngày trước, tôi biết tới địa danh này qua truyện "Cuộc truy tầm kho vũ khí". Bây giờ mới đến.

Lục đục ở SG từ 5h sáng, lên xe và đi cùng chú Minh - cũng là một người bạn của Khỏe. Con đường Long thành - Dầu Rây thật tuyệt. Thắc mắc chút: Trước đây hình như có địa danh là Dầu Rái (dầu trai - chất liệu lấy từ nhựa cây dầu để trét - sảm thuyền gỗ). Có lẽ qua thời gian từ ngữ bị biến hình... cũng như Bến Vượt bị chuyển hóa thành "Bến Dược".
Đường cao tốc trong này ít biển hạn chế, buổi sớm, đường thông, kim đồng hồ tốc độ đứng im phắc ở con số 100. Minh hiền lành, ít nói, cẩn thận và tập trung vào vô lăng. Tôi thả sức ngó nghiêng những công trình ven lộ...Hơn tiếng sau thì tới Nông trường Túc Trưng.
Sau vài cú điện thoại Khỏe cũng lù lù áp xe máy trờ tới. To lớn, da bánh mật với nụ cười cởi mở, anh bạn này là lương duyên để tôi đến với sông La Ngà. Khỏe là dân cao su nhưng rất ham câu cá lóc và có tay nghề khá. Trò chuyện bên bàn nhậu bữa nọ, mới nhá vài chiêu, hai bên đã "bắt đèn" , lập tức lên kế hoạch cho buổi hôm nay.
Ăn sáng chút xíu rồi vào rừng... Xuyên qua hàng chục trang trại xoài và keo tai tượng, chúng tôi tới  trang trại của người bạn của Khỏe tên là Tâm. 60 ha thì hơn 55 ha là đầm cá. Đầm áp sát sông La Ngà, dưỡng cá tự nhiên, mùa nước lên thì mở cửa đập cho cá vào và rộng trong đó đến khi thu hoạch. Cá sông gặp nước mới tràn từ lòng hồ Trị An và từ các dòng sông suối tìm đến vùng nước mới, người ta chỉ việc khoanh nuôi... Mối năm đầm này cho sản lượng khoảng 200 tấn, nếu chỉ được 100 tấn "coi như thua!".  Ông chủ hồ xởi lởi đón bạn và chỉ chỗ câu.
Đã có 2 xe ô tô của dân câu cá lóc từ Bình Dương và SG đậu ở đó. Họ cũng lôi thôi như chúng tôi với đồ nghề của dân Giời đày!
Mặt nước hồ trong xanh và liên tục bị phá vỡ của tiếng cá quẫy đớp... rất khả quan!
Khỏe còn cẩn thận mua cả nhái sống làm mồi câu và vài cái bánh mỳ (để làm gì sau sẽ biết)
Trời nắng sáng trưng, gío nhẹ, mặt nước khá yên, mùi cá tanh sặc, có cả vài xác cá lóc cỡ chừng mỗi con 1 kg nổi lềnh bềnh. (Mấy cái ao phía trên nuôi cá lóc, con nào bị chết, họ quẳng xuống hồ)
Tôi câu đài (câu vòng) theo lối cổ truyền. Khỏe câu máy còn Minh thì câu phao với mồi bánh mỳ.
Hai cần câu cá lóc thao tác rất thành thục và mẫn cán.
Cả tiếng đồng hồ qua mà không được phát nào. 9 h, có lẽ đã qua giờ cá ăn buổi sớm. Tôi bảo Minh, lấy cái cần câu phao, ra chỗ này mà câu, thấy nhiều trê, chép... Hắn cũng thử xem sao. Ngồi một lúc, Minh giựt cái vèo, lưỡi bay mắc luôn ngọn cây. Khỏe lại phải phụ gỡ... Chợt có tiếng  reo : Ù cá ... và thấy Minh đang lúng túng với caí cần câu tay, cong vút, tuyệt vọng với con cá lớn quá sức tải. Đành phải túm cước lôi lên và Minh hét tướng : Cá chuối!  Khỏe giảng giải: Hổng phải, cá trê! (Minh là dân mới vào nghề nên chưa phân biệt được cá và cũng chưa biết giật đóng, ròng...)

Thôi cũng được, cả bọn xoay qua câu cá trê. Trê ở đây là cá trê đen, cá tự nhiên và là loài cá bản địa. Nó rất phàm ăn, mặc dù bây giờ là ban ngày. Thả xuống chỉ khoảng 1 phút là cước bị kéo căng, giật  lên co kéo khá vất vả vì toàn cỡ 7 lạng đến gần 2 kg. Cả một đàn trê quần tụ phía dưới. Giật được vài con thì tôi cũng chán, vì mục tiêu là cá lóc chứ không phải loại "Trư Bát Giới" này. Dù sao cũng đã có cảm giác cá đầu cần...
Sang góc hồ bên kia, tĩnh lặng và rất gợi ý với những bè cỏ lơ thơ, hiển nhiên là xa bầy cá trê háu táu... Hình như có cả một đàn "rồng rồng" ... Không ăn thua, thả ra rồi lại kéo vào bằng không. Có một thằng cá lóc chừng 3 lạng còn đùa nghịch, ngậm rồi nhả.
12 h trưa, ngắm chừng đã đủ, chúng tôi lui quân, thành quả là 20 kg cá trê!  Trong số đó có dăm con  nặng gần 2 kg. Thịt rắn câng, da đen sì và hai cái ngạnh đầy vẻ hăm dọa với kẻ mới vào nghề.


Trưa ngồi ở quán ven hồ Trị an, thưởng thức gió lành và bia, ngắm làng cá, mặt hồ mênh mông.
Chiều về qua chợ Khỏe lại kiếm được bọc rắn bông súng. Tối đó, hắn trổ tài nấu nướng với món rắn bông súng bằm xào xả ớt và lẩu. Thật tuyệt vời khi cùng bạn bè...
Dĩ nhiên là cá trê thì phải phân phát cho dân SG. Mấy người họ hàng và bạn bè biết tài câu của tôi đã lâu, nay được trực cảm thành quả của một ngày dãi nắng. Hiển nhiên tôi được dịp "làm le".

Ông bạn Đường (nhân vật trong Đạo câu) do công việc, phải hủy chuyến đi câu vào phút chót, biết được chuyện chúng tôi đi câu ở La Ngà, tiếc hùi hụi ...





     

Thứ Hai, 24 tháng 3, 2014

BÀI VIẾT CỦA BẠN

Lang thang trên mạng, thấy bài viết hay hay và tên web quen quen... 
Link cố định 25/03/2014@1h47, viết bởi: phauthuattk



Thời chiến tranh và ngay sau hậu chiến, bộ đội lái xe còn được gọi là “Giặc lái”, bay lượn trên đường khiến họ có con mắt rộng hơn, những khó khăn trên đường khiến họ linh hoạt hơn, tiếp xúc với vật chất khiến họ dủng dỉnh hơn cánh bộ binh. Người ta bảo “Hòn đất đặt lên xe rồi cũng biết nói” ý là một người dù có trầm tính đến đâu, hễ làm lính lái xe một thời gian rồi thì mồm mép lại như tép nhẩy thôi.
Một thằng lính bộ binh người Thường Tín được về phép cưới vợ, chả phải nói cũng biết nó sốt ruột thế nào, đến Vinh, thay vì xếp hàng mua vé tàu, nó ra đường đứng vẫy, tối hôm trước, sáng hôm sau đã ăn lương khô, cả lái và khách cùng … háo lắm rồi, trên xe không có hàng, tức là không có gì để đổi gà, đổi rau, thằng khách có hai mươi đồng anh em đóng góp cho về cưới vợ cũng chẳng dám bỏ ra đãi. Quá 12h, thấy trong làng có cái dù trắng, thằng lái xe rẽ vào.
-Nghỉ! Ăn đã…!
Gần đến nơi, đã rõ là đám cưới, khách đã thưa, chỉ còn một mâm đang ăn, thằng lái nói nhỏ với thằng khách.
-Bảo gì làm thế…! Đừng có hỏi…!
Đoạn nó hùng hùng hổ hổ đi như lao vào sân.
-Nào! Nào! Nào…! Cô dâu chú rể đâu…! Ra anh dặn vài câu rồi đi ngay đây…!
Cả nhà bỏ đũa đổ đến, đương nhiên là cô dâu chú rể đứng khoanh tay.
-Thế này nhé! Anh phải vào chiến trường ngay, không ở lại vui với các em được, mà cũng không có gì cho các em đâu…, anh vội quá…, thôi! Hẹn ngày về… Các em phải nhớ lời anh…, từ nay là con trong nhà, cô dâu phải biết yêu chồng, kính trọng chăm sóc bố mẹ, thương yêu anh em… chú rể phải chăm lo công việc bên ngoại…, phải sứng đáng là đàn ông… nghe chửa…! Cả nước đang đánh Mỹ…, vui duyên mới không được quên nhiệm vụ … nghe chửa…! Thôi, uống với các em hớp nước…. Thuốc đâu…! Tao phải hút một điếu để chúng mày sớm có con trai…! Rồi anh đi đây…!
Cả nhà xúm xít, người rót nước, kẻ châm thuốc, ông chú họ chắp hai tay trịnh trọng.
-Dạ! Biết là việc quân sự …, gấp lắm…, không dám dữ lâu nhưng cơm đã dọn sẵn…, mời hai anh uống chén rượu mừng cho các em…, gì thì cũng phải ăn, “Thực túc binh cường” mà …, tôi nói có phải không…, cả nhà…!
Hắn chỉ chờ có thế, nhưng vẫn ra oai
-Thôi! Thôi…! Được rồi… Đã thế thì nhanh lên nào…! Quân sự lên nào…! Một chén thôi đấy nhé..!
Cả nhà tíu tít đẩy hai thằng vào mâm, cô dâu cùng cánh phụ nữ ý tứ … lỉnh để lại một mâm đầy tú ụ cho ông chú tiếp khách nhưng “Ông anh” nhất định giữ cô dâu ngồi lại.
No say, thằng lái lại dặn các em lần nữa nhưng lần này đương nhiên là ngắn và vội hơn nhiều, hai thằng đứng dậy, không từ chối bao thuốc Tam Thanh và bọc bánh, kẹo, hạt bí…
Từ lúc vào đến khi ra khỏi đám cưới, cái mồm thằng bộ binh chỉ được mỗi một việc là ăn, uống, hút …, lên xe nó mới được thực hiện chức năng thứ hai, ấp úng hỏi.
-Ông anh quen nhà này à…?
-Quen đéo gì…! Chúng nó biết mình là ai…! Châm tao điếu thuốc…!
-Thế nhỡ họ hỏi nhau…!
-Mày ngu lắm…! Cỗ đã tàn mà có cô dâu tức là cỗ nhà trai mày hiểu chưa…?
-Vâng, thế thì…!
-Giờ ấy, nhà gái chỉ còn mỗi cô dâu thôi, nó sẽ tưởng mình là khách của nhà trai… còn cả nhà trai, sẽ tưởng mình là khách của nhà gái… Thế tao mới phải giữ bằng được nó cùng ngồi … Tao diễn thế…, đéo ai dám hỏi…, bây giờ mới là lúc chúng đang kháo nhau ở nhà kia kìa…! No chưa…! Cỗ ngon nhỉ…! Tao mừng cho mày gói kéo ý đấy…!
Thế đấy, khi xe có hàng, chúng chỉ cần bóc mấy cái vỏ thùng bằng gỗ thông là có cơm gà, khi không có gì thì chúng lừa người ta ngon thế đấy!
Cục hậu cần Quân đoàn 2 có một tiểu đoàn lính như vậy, D32. Bọn thằng Cường là vận tải bộ đương nhiên gần gũi với các “Ông anh” này nhất.
Còn nhớ ngày “Thần tốc”, cánh lái xe quen chạy đường rừng, nay được phi trên quốc lộ I rộng rãi êm ru, những cái Hồng Hà cứ đạt 60-70 Km/h là đầu lắc như con điên, thế mà họ đùa dỡn, vượt, chèn nhau…, thoạt đầu, cánh bộ binh ngồi trên còn hò reo cổ vũ nhưng sau mấy cú hú hồn thì chúng sợ.
-Đèo mẹ…! Chả chết vì bom đạn có khi lại chết vì mấy ông này bi giờ!
Chúng nó đập tay lên nóc ca bin, thò chân đập vào kính trước, tưởng được cổ vũ, bọn lái lại càng máu. Thằng Hồng Tréc tụt xuống, đứng ngoài cửa, thò tay túm ngực lão lái chửi.
-Địt mẹ chúng mày…! Muốn chết à…!
Ông anh không thèm chấp nhưng từ đó cũng thôi đùa.
Ca bin các loại xe XHCN nóng lắm, hễ dừng lại là bọn giặc trốn khỏi buồng lái, họ túm nhau trốn nắng dưới gầm, ăn 702, uống Coca-cola, bọn bộ binh không được phép rời xe nên đó cũng là lúc để chúng … tè, thay nhau thò súng ra ba phía (Trừ đầu xe, mà phía ấy thì bọn lái không chui vào được, thấp và nóng lắm) mà phun. Có lần, ông anh vừa chui ra thì bị tưới trúng đầu, thế mà cũng chỉ.
-Ơ…! Địt mẹ thằng nào đái vào đầu bố mày đấy…!
Ở trên im thin thít, ở dưới cũng không nói gì thêm, xe chạy rồi thằng Hòa Toản mới bắt trước.
-Ơ…! Địt mẹ thằng nào đái vào đầu bố mày đấy!
Và lúc ấy cả bọn mới bật cười rũ rượi rồi truy khảo xem “Thành tích” là của đứa nào.
Ngay tháng 6 năm 75, tức là mới giải phóng hơn một tháng, khi mà trên các tuyến quốc lộ còn đầy quân trang, quân dụng, vũ khí của lính VNCH, thằng Cường được đi áp tải một chuyến muối từ Tây Ninh về Sài Gòn.
Với những thằng lính quá trẻ như nó thì chiến tranh ẩn sau những vết tích còn lại như những cái kho ấy. Nằm trong một cánh rừng cao su, buổi tối có thể nhìn rõ ánh đèn từ thành phố Tây Ninh, cái kho Việt Cộng bạt ngàn, hàng đắp cao như núi, phủ bạt kín. Khi thằng Cường ngạc nhiên hỏi Ông anh coi kho.
-Cái kho này có từ bao giờ ông anh?
-Lâu lắm rồi…! Ngày mới làm, chúng tao chặt gỗ xếp làm sàn …, sàn cao bằng đầu rồi mới chất hàng lên, bây giờ, số gỗ ấy chìm cả dưới đất rồi.
Đến bây giờ thằng Cường vẫn không hiểu Việt Cộng làm thế nào để giữ được cái kho ấy và làm sao quân đội VNCH với pháo binh và không quân hiện đại lại có thể “Bỏ quên” một cái kho lớn chừng ấy ngay gần thị xã Tây Ninh. Sau trận Xuân Lộc và những gì nhìn thấy, nghe thấy, thằng Cường không sợ, nhưng thâm tâm vẫn “Nể” QĐVNCH lắm.
Trên đường về, trong Ca bin có ba người, lái xe, thằng Cường và một ông anh khác bên kho. Hàng trăm km, hai bên ngút ngàn cỏ tranh cao bằng đầu, đường vắng ngắt nhưng lái xe phải chú ý tránh những quả lựu đạn US vương vãi, tỏ ra kinh nghiệm, thằng Cường ghé tai ông anh kho.
-Anh tranh thủ ngủ đi, lát nữa thay em, mình phải động viên kẻo ông “Giặc” này ngủ gật là tẻo đấy!
Rồi nó hết hỏi ông xế về gia cảnh, về cá nhân về đường xá và những tram giao liên trên Trường Sơn…, rồi kể chuyện Hà Nội, những chuyện thật và những chuyện “Bốc phét” nhưng mãi rồi cũng… cạn vốn. Hai bên đường cứ đơn điệu cỏ tranh loang loáng chạy lùi về phía sau, tiếng máy cứ êm êm đều đều như ru …, như kéo hai mi mắt díp lại…, không thể cưỡng được nữa, thằng Cường đập vai ông anh kho.
-Anh dậy đi, ngồi sang đây…, động viên ông anh lái…, em buồn ngủ lắm rồi…!
-Chúng mày cứ ngủ đi… không cần đâu…!
Ông giặc lái nói vậy nhưng bằng cái chất giọng đã “Ngái” lắm rồi, thằng Cường chỉ ngủ nửa mắt, nó chập trờn thấy ông kho nói vài câu rồi hình như ông ta lại … gật…, thằng Cường sợ…, thằng Cường lơ mơ…
Bỗng rình, rình, rình… uỳnh! Ba thằng hốt hoảng choàng dậy …, trước mũi xe, lù lù một đống đất cao đến 3-4 mét, nắp ca bô khói um. Tên giặc lái không biết đã ngủ từ bao giờ, chiếc xe chạy theo chế độ “Tự động”, nơi đây có cây cầu đã bị đánh xập, đường đã vòng sang một cây cầu mới nhưng cái xe vẫn … chạy thẳng, may mà cỏ tranh quá dày đặc đã níu chiếc GMC lại và đống đất như ông bụt hiện lên đúng lúc nếu không cả xe bà ba thằng đã được … tắm sông rồi, may hơn nữa là không dính quả mìn nào nếu không, chưa kịp tắm đã … Thăng thiên!
GMC của Mỹ tốt thật, lão lái chỉ loay hoay một tý là máy lại nổ, thằng Cường trèo lên thùng si nhan cho chiếc xe lùi theo đúng vệt vào để ra đường.
Sắp tối, tay lái xe không chịu nghỉ.
-Đèo … mẹ! Sợ tan mật còn ngủ thế đéo nào được…! Rồi …, ông sẽ đến chúng mày một bữa…!
Đến một nơi có những cái lều tre nứa thưa thớt bên đường, tạt vào, đỗ trước mấy đống lốp, phía trên có cái biển “Sel-Cẩn thận hơn nữa với nhớt mới”.
-Sáu ơi…!
Tay lái xe gọi, trong nhà lao ra là một phụ nữ chừng 30 tuổi, quần đen rộng thùng thình, áo bà ba xanh nõn chuối xẻ tà đến nách, đầu trít khăn rằn.
-Trời…! Anh hai tới … ha…!
-Ừa…! Anh đang mệt và đói đây …! Sáu đâu…?
-Dạ…! Ảnh.. zừa đây hà…! Mấy anh uống nước… tui đi gọi…!
Người đàn bà te tái ra đi, lát sau người đàn ông đen đúa mặc sà lỏn (quần đùi), chân tây lấm bê lấm bết sách cái thùng nhựa đầy những cá đặt giữa nhà, mắt những thằng lính sáng lên nhìn những con cá lóc, cá trê to bằng bắp tay, những con rô gốc đen trùi trũi dài đến 20 phân, to bằng nửa bàn tay…, con nào con ấy, beo nùng nục, ở ngoài Bắc chưa bao giờ nhìn thấy.
Họ mới quen nhau nhân một lần tên giặc lái hỏng lốp, ngày mới giải phóng mà được phục vụ mấy “Ông bộ đội” là hãnh diện lắm, lại là ông bộ đội có mồm có mép nên giờ gặp lại cứ như đã gắn bó từ lâu.
Chủ khách vừa ngồi xuống mấy cái ghế ô tô rách nát, bên tấm gỗ dán kê trên ba cục gạch làm bàn, nước chưa kịp uống đã nghe bên kia cái liếp ken bằng những tàu dừa nước có tiếng… “Quéc!” rồi rất nhanh sau đó, thằng Cường ngửi thấy mùi thơm thơm ngọt ngọt, anh chủ với tay vào góc nhà lôi ra chai rượu khi người phụ nữ ban nãy bưng sang một đĩa bốc khói nghi ngút…, lòng mề xào dứa, bụng mấy thằng réo òng ọc, nước miếng chảy ở đâu về mà lắm thế.
-Đây là lòng ngan, trong này gọi là vịt xiêm!
Tên giặc lái giải thích cho thằng Cường rồi quay sang mời cô chủ nhà.
-Em ngồi nhậu với tụi anh luôn đi…!
-Dả dả dả…! Mấy anh tự nhiên, tui làm món khác…!
-Kệ bả… ạ! Nào chúc mấy anh…!
Người đàn ông bưng ly rượu mời…
Khi đĩa xào đã hết, mặt ông kho đã đỏ rực, ông chủ nhà đã thôi trịnh trọng, nói nhiều hơn bằng cái chất giọng Nam Bộ nhưng khó nghe hơn vì nhanh và méo hơn kèm theo hai bàn tay múa múa trên đầu, cái thân mình gầy gò uốn éo theo những lời giải thích cho thằng Cường khi nó ngạc nhiên vì chị nhà làm thịt ngan nhanh thế.
-Đu… ù mả..! Ba…ả nhà tui hổng xinh đẹp, nhưng đực cái nhanh zữ lắm…! Này hen… bả cắt tiết rồi moi ruột xào liền, chừng xào xong thì nước cũng sôi… á! Đó…, anh em mình có nhậu… á! Ba…ả mới zô zặc lông…á, chế mấy món khác… Đó… bả tới kìa!
Lúc này người đàn bà mới bưng lên một mâm đầy đủ những luộc, rang, canh…
No say, vợ chồng họ tiễn mấy ông bộ đội lên đường, khi này thì cô vợ nói nhiều hơn chồng và cũng khó nghe hơn chồng.
-Mấy eng đi mạnh giỏi ha…! Nhớ zìa thăm tụi em nha…, nhà em ảnh nhắc goài à…
Mồm nói mà tay thị vẫn phải giữ ông chồng loạng quạng, đầu chúi xuống đất, hai tay với với lên trời múa múa, miệng lè nhè cái gì như nói một mình….
Trước khi hành quân ra Huế, bọn thằng Cường đã quá quen với những ông “Giặc lái” và những tình huống thót tim như vậy!


Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Bài thơ viết trên cánh diều
(Bài thơ trong bộ phim “Bao giờ cho đến tháng mười”)

Bao giờ cho đến tháng mười
Lúa chín trên cánh đồng giông bão
Ta để lại sau lưng những ngày dài mong đợi
Những mất mát, hi sinh, khổ đau, chịu đựng
Khi trời thu vẫn xanh mãi trên đầu./.


Bao giờ cho đến bao giờ?

NGUYỄN THIÊN NGÂN


Bao giờ cho đến tháng mười
Để  ta đưa nhau về thưa với mẹ
Rằng mẹ ơi con vẫn là đứa trẻ
Dẫu giờ đây tim đã biết yêu người
Này là bạn đời, là đứa trẻ cùng chơi
Giờ cũng muốn về làm con của mẹ.

Bao giờ cho đến tháng mười
Để ta đưa nhau lên núi
Hái giò phong lan ướt đẫm sương trời
Để ta nhìn nhau thôi bối rối
Ngày mai rồi có ra sao nữa
Thì ra.
Giờ trong núi vắng
Chỉ ta với người.

Bao giờ cho đến tháng mười
Hai đứa mình rủ nhau đi làm cách mạng
Không phải cách mạng vô sản
Mà là cách mạng tình yêu
Mình không thèm Cung điện Mùa Đông
Chỉ mơ một túp lều
Trang trí thêm hai trái tim vàng là ổn
Dù giá vàng đang rất phiêu diêu.

...

Bao giờ cho đến tháng mười
Mình dẫn nhau về phố núi mưa giăng
Ta hôn người dưới vòm cây thơ ấu
Vậy rồi cũng đến tháng mười
Sau hăm mấy mùa không-nhau
Người chụm đầu cùng ta thổi ngọn nến đầu tiên và sau cuối
Từ yêu nhau, ta trở thành không tuổi.
Đến bên nhau để sống lại từ đầu ./.

Tôi viết:

Bài thơ hay như một tiếng thở dài
Ký ức ngái xa không bao giờ trở lại ...


Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Sao hôm nay lại buột lời - bổn phận… 

       Sao hôm nay tôi buột lời: Bổn phận… với loại người chẳng biết tự tôn. Sao hôm nay, lại bàn về bổn phận, với những cái đầu trống rỗng, chỉ lo thân. Sao hôm nay tôi tiếc lời: bổn phận - phung phí với loại người chỉ giỏi tính thiệt hơn. Sao hôm nay tôi phí lời - bổn phận, với những hạng người chỉ biết hắn mà thôi. 

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

NGÔI NHÀ CỦA NHỮNG ÂM MƯU Khác hẳn những ngôi nhà đâu đó tràn đầy gió và ánh nắng mặt trời… ngôi nhà này, dường như đầy âm mưu. Bởi có mấy loại người ở đó. Kẻ kha khá ở tầng trên cùng, thì nhìn ngang và nhìn xuống những tầng dưới, gườm gườm những xì xầm và lắng tiếng chân lên cầu thang, rình mò à, còn lâu nhé... Kẻ ở tầng giữa thì bực bội nhìn lên, sao chúng nện gót mạnh thế, sao chúng cười to thế, phải làm cho tầng trên mọt ruỗng và sập đổ xuống, đã là cái gì đâu mà huếnh ... Cứ thế, ngôi nhà có vẻ đầy những âm mưu… Song vẫn còn những sắc thái khác. Ở tầng dưới… Bọn trẻ con vẫn tung tăng với mấy chiếc đu quay. Tốc độ, tiếng huyên náo dường như làm chúng quên đi rằng mình vẫn quẩn quanh trong vòng tròn trò chơi. Tối phải lên giường đến đủ sức sáng mai đi học, sáng phải dời khỏi giường để rửa mặt, ăn sáng và chen chúc cùng bố hoặc mẹ trên những dòng xe cộ để đến trường, cứ thế. Chúng không biết rằng, đời cũng giông giống vòng đu quay. Mấy bà “Ô sin”, thiên hạ vẫn gọi người giúp việc hôm nay như vậy, đang đứng hóng mát dưới bóng cây đầu nhà, vẫn trò chuyện râm ran về vụ trộm, vụ cháy, vụ đánh ghen nào đó. Họ hướng quan tâm vào chuyện vô thưởng vô phạt…Cần gì quan tâm xa xôi, cuối tháng có thêm ít tiền cho con đang học nghề năm giữa là được… Ông già công nhân về hưu làm thêm nghề sửa xe đạp, cái nghề đang mai một dần ở thành phố và rất thiếu khách hàng ở ngôi nhà này, cũng lại có một tâm sự khác. Ngày ông chỉ ở trong nhà vài tiếng, còn lại là ngoài đường. Thảng hoặc cháy nổ, sập lún, thì dung sai an toàn của ông vẫn lớn hơn mọi người bám lấy ngôi nhà. Ông là người xây dựng ngôi nhà này, ông biết phẩm chất và tuổi thọ của nó. Song bây giờ, đến ông cũng buộc phải nghi ngờ những gì mà bản vẽ đã vạch ra. Bởi những người đến ở đã tùy tiện thêm vào và cải hoán quá nhiều. Chỗ đáng là khu vệ sinh, nhà ông nọ đã biến thành phòng khách (cho cởi mở, ông ấy bảo thế). Chỗ đáng là ban công hóng gió, bà nọ bảo con trai sắp lấy vợ, đua ra và khép lại làm thành một phòng như tổ chim… Ban Quản lý có phạt đấy nhưng “cho phép giữ nguyên hiện trạng”! Ông biết tuổi thọ của ngôi nhà chỉ còn là năm tháng. Nó đã rệu rã bởi những âm mưu và toan tính của những người cùng nhà. Sức bền vật liệu và của thiết kế kết cấu đã tới hạn. Mấy năm trước đã có những ngôi nhà tương tự sập đổ. Song ai trong ngôi nhà này cũng nghĩ là mình ở trường hợp khác. Gần đây, lại nghe nói có mấy đại gia đã mua đứt cả khu vực có ngôi nhà này. Thành phố cũng đã đồng ý, giờ chỉ còn xin ý kiến của dân. Nhà chả sập thì người ta cũng phá để tạo mặt bằng. Và, họ vẫn cứ toan tính và cứ tiếp tục dửng dưng./.